Các triết lý quản trị marketing – Quản trị marketing thành công

Trong thời kỳ sơ khai mới phát triển của Marketing, khi mà người tiêu dùng quan tâm nhiều hơn tới giá của sản phẩm, các doanh nghiệp thường lựa chọn cho mình triết lý tối ưu hóa sản xuất để tạo ra sản phẩm với chi phí thấp hơn. Sự phát triển của kinh tế xã hội kéo theo sự thay đổi trong thói quen và tư duy tiêu dùng, những khách hàng trước đây chỉ nhìn vào giá sản phẩm đã dành thêm thời gian quan tâm tới chất lượng và tính năng sản phẩm. Điều này khiến các nhà sản xuất chuyển sự tập trung của mình cho việc nghiên cứu và cải thiện sản phẩm nhiều hơn. Ngày nay, càng có nhiều CEO có quan điểm ME – Marketing is Everything, đó là triết lý Marketing toàn diện – Holistic Marketing, thể hiện rằng marketing tác động đến mọi khía cạnh trong hoạt động của một doanh nghiệp. Cùng tìm hiểu về 5 triết lý marketing được các doanh nghiệp sử dụng.

Bài phân tích chi tiết xem tại: Những định hướng phát triển Marketing

các doanh nghiệp thường lựa chọn cho mình triết lý tối ưu hóa sản xuất để tạo ra sản phẩm với chi phí thấp hơn

1) Triết lý sản xuất

Triết lý coi sản xuất là yếu tố cốt lõi trong hoạt động doanh nghiệp là triết lý lâu đời nhất trong kinh doanh. Cho rằng người tiêu dùng sẽ thích những sản phẩm có tính phổ biến và giá tốt hơn. Từ đó, những nhà quản lý đi theo triết lý sản xuất tập trung vào việc đạt được năng xuất sản xuất, chi phí và việc phân phối rộng rãi nhiều hơn. Ngày nay, triết lý này thường được sử dụng khi doanh nghiệp  muốn tăng thị phân hoặc mở rộng thị trường.

2) Triết lý sản phẩm

Triết lý này cho rằng khách hàng ưa chuộng những sản phẩm với chất lượng cao, kiểu dáng và tính năng độc đáo, và do vậy nhà quản lý cần tập trung các nỗ lực của mình để có được những sản phẩm cải tiến liên tục.

Tuy nhiên, các nhà quản lý theo triết lý này lại thường mắc phải  sai lầm “better-mousetrap” (Marketing Management – P. Kotler). Theo đó, họ cho rằng nếu sản phẩm của họ tốt hơn thì khách hàng sẽ mua nó (khách hàng mua giải pháp, không mua sản phẩm). Họ nên nhớ rằng “Thành công trong kinh doanh không phải do người sản xuất, mà chính là do khách hàng” (Peter Drucker).

3) Triết lý bán hàng

Triết lý bán hàng cho rằng nếu doanh nghiệp thiếu các nỗ lực bán hàng thì người tiêu dùng sẽ không mua hết các sản phẩm của doanh nghiệp. Mục đích của họ là bán được những gì đã làm ra, chứ không phải làm ra những gì có thể bán được (thị trường mong muốn).

Triết lý này được áp dụng mạnh mẽ nhất đối với những hàng hóa có nhu cầu thụ động (unsought goods). Đó là những hàng hóa mà bình thường thì người mua không nghĩ đến việc mua như bảo hiểm, từ điển bách khoa toàn thư. Marketing dựa trên cách bán hàng lài ép (hard selling) bị cho là rủi ro. Nó giả định khách hàng sau khi đã bị lài ép mua hàng sẽ không chỉ sẽ không quay lại hoặc phàn nàn về sản phẩm mà còn sẽ tiếp tục mua hàng.

4) Triết lý Marketing

Triết lý marketing xuất hiện vào giữa những năm 1950, coi khách hàng là trung tâm. Nó thể hiện ở việc tạo ra những sản phẩm đáp ứng những yêu cầu của khách hàng, thay vì tìm những khách hàng cho những sản phẩm đã được sản xuất ra.

Triết lý marketing cho rằng, chìa khóa để đạt được các mục tiêu của tổ chức nằm ở việc tạo ra, phân phối và kết nối những giá trị cho khách hàng đến với thị trường mục tiêu một cách hiệu quả hơn các đối thủ cạnh tranh.

Nếu so sánh với triết lý bán hàng thì có thể thấy rằng triết lý bán hàng tập trung vào mong muốn của người bán, còn triết lý marketing tập trung vào mong muốn của người mua.

Triết lý marketing

5) Triết lý Marketing xã hội hay toàn diện

Triết lý marketing xã hội dựa trên cơ sở cân bằng ba mục tiêu khi thiết kế các chính sách marketing: thỏa mãn nhu cầu khách hàng, góp phần đạt lợi nhuận của doanh nghiệp và đảm bảo phúc lợi của xã hội.

Có 4 khía cạnh của Marketing xã hội:

  • Internal Marketing: có nhiệm vụ tuyển dụng, đào tạo, huấn luyện các bộ phận marketing, quản lý cấp cao và các bộ phận khác nhằm tạo ra sự liền mạch và tư tưởng, triết lý thông suốt toàn hệ thống
  • Integrated Marketing: bao gồm sự tích hợp của truyền thông, sản phẩm & dịch vụ và các kênh
  • Relationship Marketing: có nhiệm vụ xây dựng mối quan hệ lâu dài với các khách hàng, nhân viên, đối tác marketing (kênh, nhà cung cấp, nhà phân phối, đại lý, agency) và nhóm tài chính liên quan (cổ đông, nhà đầu tư)
  • Performance Marketing: đánh giá và phân tích mọi tác động, kết quả mà các chương trình marketing tạo ra. Nó có thể bao gồm cả tài chính, phi tài chính và các yếu tố xã hội.

Xem thêm: Hiểu hết về Video marketing – Bùng nổ doanh số, ghi dấu thương hiệu

Leave a reply:

Your email address will not be published.

Site Footer